Chương 40 — Khi Con Bắt Đầu Muốn Tự Quyết

Chương 40 — Khi Con Bắt Đầu Muốn Tự Quyết

1. MỤC TIÊU CHƯƠNG

Giúp cha mẹ hiểu một bước chuyển quan trọng trong quá trình trưởng thành:

CON BẮT ĐẦU MUỐN TỰ QUYẾT KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ CON ĐANG CHỐNG ĐỐI.

Đó có thể là dấu hiệu con đang chuyển từ:

PHỤ THUỘC → TỰ LẬP → TỰ CHỦ.

Khi con bắt đầu có:

ý kiến riêng;

sở thích riêng;

cách làm riêng;

nhu cầu riêng;

mong muốn tự lựa chọn,

vai trò của cha mẹ cũng cần thay đổi.

Không còn chỉ là:

“BỐ MẸ QUYẾT ĐỊNH – CON THỰC HIỆN.”

Mà dần chuyển thành:

“BỐ MẸ ĐỊNH HƯỚNG – CON THAM GIA – CON LỰA CHỌN TRONG GIỚI HẠN PHÙ HỢP – CON CHỊU TRÁCH NHIỆM.”

2. CÂU HỎI TRUNG TÂM

Khi con bắt đầu muốn tự quyết, cha mẹ nên trao quyền đến đâu và giữ giới hạn như thế nào?

Đây là một trong những giai đoạn dễ tạo ra xung đột.

Nếu cha mẹ:

kiểm soát quá nhiều,

con có thể:

phản ứng;

giấu giếm;

chống đối;

hoặc phụ thuộc vào quyết định của cha mẹ.

Nếu cha mẹ:

buông hoàn toàn,

con có thể:

phải tự xử lý những việc vượt quá năng lực;

thiếu định hướng;

hoặc chưa đủ khả năng đánh giá rủi ro.

Vì vậy, mục tiêu không phải:

KIỂM SOÁT HOẶC BUÔNG BỎ.

Mà là:

TRAO QUYỀN THEO NĂNG LỰC.

3. TỰ QUYẾT LÀ MỘT BƯỚC TRƯỞNG THÀNH

Khi còn nhỏ, trẻ cần:

được chăm sóc;

được hướng dẫn;

được quyết định thay trong nhiều việc.

Nhưng khi năng lực tăng lên, trẻ cần có cơ hội:

tự làm;

tự suy nghĩ;

tự lựa chọn;

tự hành động;

tự chịu trách nhiệm.

Quá trình:

PHỤ THUỘC → TỰ LÀM → TỰ QUẢN → TỰ QUYẾT → TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM → TỰ ĐIỀU CHỈNH.

Vì vậy:

QUYỀN TỰ QUYẾT KHÔNG PHẢI MỘT MÓN QUÀ CHA MẸ BAN CHO CON.

Nó là một phần của quá trình phát triển năng lực.

4. “CON MUỐN TỰ QUYẾT” KHÔNG CÓ NGHĨA “CON MUỐN GÌ CŨNG ĐƯỢC”

Đây là điểm cần phân biệt rõ.

Tự quyết không có nghĩa:

thích gì làm nấy;

không cần nghe ai;

không cần chịu trách nhiệm;

không cần giới hạn.

Tự quyết đúng nghĩa là:

CON ĐƯỢC THAM GIA VÀO NHỮNG QUYẾT ĐỊNH PHÙ HỢP VỚI TUỔI, NĂNG LỰC, MỨC ĐỘ AN TOÀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MÌNH.

Do đó:

TỰ DO CẦN ĐI CÙNG TRÁCH NHIỆM.

5. CHA MẸ CẦN THAY ĐỔI VAI TRÒ

Khi con còn nhỏ:

cha mẹ làm nhiều hơn.

Khi con lớn:

cha mẹ hướng dẫn nhiều hơn.

Khi con có năng lực:

cha mẹ trao quyền nhiều hơn.

Có thể hình dung:

LÀM CÙNG → HƯỚNG DẪN → GIÁM SÁT → KIỂM TRA → TRAO QUYỀN → LÙI LẠI.

“Lùi lại” không có nghĩa:

bỏ mặc.

Mà là:

GIẢM CAN THIỆP TRỰC TIẾP KHI CON ĐÃ ĐỦ KHẢ NĂNG TỰ VẬN HÀNH.

6. NĂNG LỰC ↑ → QUYỀN TỰ QUYẾT ↑

Một nguyên tắc quan trọng:

NĂNG LỰC CÀNG TĂNG → KHÔNG GIAN TỰ QUYẾT CÀNG CÓ THỂ MỞ RỘNG.

Ví dụ:

Khi con chưa biết:

cha mẹ quyết định nhiều hơn.

Khi con đã hiểu:

cho con lựa chọn giữa một số phương án.

Khi con đã có năng lực:

cho con tự đề xuất.

Khi con đã có khả năng chịu trách nhiệm:

cho con tự quyết trong phạm vi phù hợp.

Đây là:

TRAO QUYỀN THEO NĂNG LỰC, KHÔNG TRAO QUYỀN THEO CẢM XÚC.

7. BA VÙNG QUYẾT ĐỊNH

Không phải quyết định nào cũng cần mức can thiệp giống nhau.

Có thể chia thành ba vùng:

VÙNG 1 — CHA MẸ QUYẾT ĐỊNH

Những vấn đề liên quan đến:

an toàn nghiêm trọng;

sức khỏe;

pháp luật;

nguy cơ gây hại nghiêm trọng cho bản thân hoặc người khác.

Trong những trường hợp này:

AN TOÀN ĐƯỢC ƯU TIÊN HƠN QUYỀN TỰ QUYẾT.

VÙNG 2 — CHA MẸ VÀ CON CÙNG QUYẾT ĐỊNH

Những vấn đề:

quan trọng;

có nhiều hệ quả;

cần kinh nghiệm hoặc thông tin mà trẻ chưa đủ.

Cha mẹ:

cung cấp thông tin;

đặt câu hỏi;

phân tích cùng con;

cùng thống nhất.

VÙNG 3 — CON TỰ QUYẾT ĐỊNH

Những việc:

phù hợp với tuổi;

năng lực;

an toàn;

phạm vi trách nhiệm của con.

Ở vùng này:

cha mẹ không nên can thiệp chỉ vì con chọn khác mình.

8. ĐỪNG BIẾN “KHUYÊN” THÀNH “QUYẾT ĐỊNH THAY”

Cha mẹ có kinh nghiệm hơn nên việc đưa ra lời khuyên là cần thiết.

Nhưng:

LỜI KHUYÊN KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ MỆNH LỆNH.

Có thể nói:

“Bố/mẹ nhìn tình huống này như thế này…”

“Bố/mẹ thấy phương án này có rủi ro ở điểm…”

“Con đã cân nhắc điều đó chưa?”

Sau đó:

để con suy nghĩ.

Mục tiêu:

GIÚP CON CÓ THÊM DỮ LIỆU, KHÔNG LẤY MẤT QUYỀN SUY NGHĨ CỦA CON.

9. CHA MẸ CÓ THỂ HỎI THAY VÌ TRẢ LỜI

Khi con hỏi:

“Con nên chọn cái nào?”

Đừng lúc nào cũng trả lời ngay:

“Chọn cái này.”

Có thể hỏi:

“Con đang cân nhắc những phương án nào?”

“Con thấy ưu điểm của mỗi phương án là gì?”

“Điều gì có thể xảy ra?”

“Con còn thiếu thông tin gì?”

“Nếu chọn phương án này thì con có chấp nhận hệ quả không?”

Sau đó:

“Con muốn chọn cách nào?”

Đây là cách chuyển:

CHA MẸ LÀ NGƯỜI RA QUYẾT ĐỊNH

thành:

CHA MẸ LÀ NGƯỜI HUẤN LUYỆN KHẢ NĂNG RA QUYẾT ĐỊNH.

10. MỘT QUYẾT ĐỊNH TỐT KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG CHO KẾT QUẢ TỐT

Trẻ cần hiểu một điều quan trọng:

QUYẾT ĐỊNH TỐT VÀ KẾT QUẢ TỐT KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG TRÙNG NHAU.

Một quyết định có thể:

dựa trên thông tin tốt;

cân nhắc hợp lý;

nhưng kết quả vẫn không như mong muốn.

Ngược lại:

một quyết định thiếu suy nghĩ

đôi khi vẫn:

tình cờ cho kết quả tốt.

Vì vậy, không nên chỉ đánh giá quyết định bằng:

“Cuối cùng có thành công hay không?”

Mà cần hỏi:

“TẠI THỜI ĐIỂM ĐÓ, CON ĐÃ SUY NGHĨ NHƯ THẾ NÀO?”

11. KHUNG RA QUYẾT ĐỊNH CƠ BẢN

Có thể dạy con quy trình:

VẤN ĐỀ → THÔNG TIN → LỰA CHỌN → HỆ QUẢ → QUYẾT ĐỊNH → HÀNH ĐỘNG → NHÌN LẠI.

VẤN ĐỀ

Mình đang cần quyết định điều gì?

THÔNG TIN

Mình biết gì?

Chưa biết gì?

LỰA CHỌN

Có những phương án nào?

HỆ QUẢ

Mỗi phương án có thể dẫn đến điều gì?

QUYẾT ĐỊNH

Mình chọn phương án nào?

HÀNH ĐỘNG

Mình sẽ thực hiện ra sao?

NHÌN LẠI

Kết quả thế nào?

Lần sau cần điều chỉnh gì?

12. BA GỐC TRONG MỖI QUYẾT ĐỊNH

Khi con bắt đầu tự quyết, Ba Gốc trở thành một bộ lọc quan trọng.

ĐẠO ĐỨC

Việc này có đúng không?

Có gây hại không?

TRÍ TUỆ

Cách nào phù hợp nhất?

Hệ quả có thể là gì?

NGHỊ LỰC

Nếu đã chọn, con có đủ trách nhiệm để thực hiện không?

Có thể cô đọng:

ĐẠO ĐỨC CHỈ HƯỚNG → TRÍ TUỆ CÂN NHẮC → NGHỊ LỰC THỰC HIỆN.

13. KHUNG “AN VUI – NHÂN QUẢ – BA GỐC”

Khi con đứng trước một lựa chọn, có thể sử dụng:

AN VUI → NHÂN QUẢ → BA GỐC.

AN VUI

Lựa chọn này có thực sự mang lại điều tốt đẹp hay chỉ là thỏa mãn nhất thời?

NHÂN QUẢ

Nếu làm như vậy, điều gì có thể xảy ra tiếp theo?

BA GỐC

Có phù hợp với Đạo đức, Trí tuệ và Nghị lực không?

Đây là:

KHUNG GIÁ TRỊ GIÁO DỤC CỦA LEMACY, không phải công thức khoa học tuyệt đối.

14. KHUNG “LỢI MÌNH – LỢI NGƯỜI – GÌN GIỮ THIÊN NHIÊN”

Một quyết định trưởng thành cần mở rộng góc nhìn:

LỢI MÌNH → LỢI NGƯỜI → GÌN GIỮ THIÊN NHIÊN.

Không chỉ hỏi:

“Con được gì?”

Mà còn:

“Người khác bị ảnh hưởng thế nào?”

“Có gây tổn hại không?”

“Nếu nhiều người cùng làm như vậy thì điều gì xảy ra?”

Khung này giúp trẻ chuyển từ:

TÔI

sang:

CHÚNG TA

và rộng hơn:

TOÀN THỂ.

15. CHO CON QUYỀN SAI TRONG VÙNG AN TOÀN

Nếu cha mẹ muốn con biết tự quyết, phải chấp nhận một sự thật:

CON SẼ CÓ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CHƯA TỐT.

Trong những việc:

an toàn;

phù hợp với tuổi;

hậu quả có thể sửa chữa,

hãy để con:

thử;

lựa chọn;

trải nghiệm;

nhận phản hồi;

sửa.

Chuỗi:

TỰ CHỌN → HÀNH ĐỘNG → KẾT QUẢ → PHẢN TƯ → ĐIỀU CHỈNH → TRƯỞNG THÀNH.

16. ĐỪNG NÓI “BỐ MẸ ĐÃ BẢO RỒI”

Khi quyết định của con không tốt, câu:

“Bố mẹ đã bảo rồi.”

có thể làm mất đi cơ hội học tập.

Một câu hỏi tốt hơn:

“Con nghĩ điều gì đã xảy ra?”

“Điều gì con chưa tính đến?”

“Bây giờ con có thể làm gì?”

“Lần sau con muốn thay đổi điều gì?”

Mục tiêu:

BIẾN HẬU QUẢ THÀNH DỮ LIỆU CHO TRÍ TUỆ.

17. TỰ QUYẾT VÀ TRÁCH NHIỆM

Quyền quyết định phải đi cùng:

TRÁCH NHIỆM.

Nếu con được:

tự chọn,

thì cần học:

chịu trách nhiệm với lựa chọn.

Chuỗi:

QUYỀN → LỰA CHỌN → HÀNH ĐỘNG → HỆ QUẢ → TRÁCH NHIỆM → ĐIỀU CHỈNH.

Không nên:

cho con quyền quyết định,

nhưng khi kết quả không tốt:

cha mẹ đứng ra giải quyết tất cả.

Như vậy:

quyền vẫn thuộc về con;

nhưng trách nhiệm lại quay về cha mẹ.

18. CHA MẸ KHÔNG NÊN GIÀNH LẠI QUYỀN SAU MỖI LẦN CON SAI

Một sai lầm có thể xảy ra:

cho con tự quyết;

con chọn chưa tốt;

cha mẹ lập tức:

“Từ giờ bố mẹ quyết định hết.”

Nếu không có vấn đề an toàn nghiêm trọng, cách này có thể khiến trẻ học rằng:

TỰ QUYẾT = NGUY HIỂM.

Thay vào đó:

xem sai ở đâu;

điều chỉnh mức hỗ trợ;

có thể thu hẹp phạm vi quyết định;

sau đó mở rộng lại khi năng lực tăng.

Đó là:

TRAO QUYỀN CÓ LỘ TRÌNH.

19. TỰ QUYẾT KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ KHÔNG NGHE CHA MẸ

Một đứa trẻ có thể:

lắng nghe lời khuyên;

cân nhắc ý kiến;

không đồng ý;

đưa ra lý do;

tự lựa chọn trong phạm vi được phép.

Điều đó không đồng nghĩa:

bất hiếu;

chống đối;

hỗn.

Có thể dạy:

“CON CÓ QUYỀN KHÔNG ĐỒNG Ý, NHƯNG CẦN BIẾT NÓI Ý KIẾN MỘT CÁCH TÔN TRỌNG VÀ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỚI LỰA CHỌN.”

20. BẤT ĐỒNG KHÔNG PHẢI CHỐNG ĐỐI

Một đứa trẻ nói:

“Con không đồng ý.”

chưa phải là:

chống đối.

Cần nhìn:

con nói điều gì;

lý do gì;

thái độ ra sao;

hành vi có vượt ranh giới không.

Có thể có:

BẤT ĐỒNG CÓ LÝ DO

và:

HÀNH VI KHÔNG CHẤP NHẬN ĐƯỢC.

Cha mẹ cần phân biệt hai việc này.

21. TỰ QUYẾT VÀ NHU CẦU ĐƯỢC THUỘC VỀ

Khi lớn lên, trẻ có thể muốn:

tự chọn quần áo;

tự chọn bạn;

tự chọn hoạt động;

tự quản thời gian;

có không gian riêng;

có quan điểm riêng.

Một phần trong đó là nhu cầu:

ĐƯỢC CÔNG NHẬN MÌNH LÀ MỘT CÁ NHÂN ĐANG TRƯỞNG THÀNH.

Cha mẹ không cần đồng ý với mọi lựa chọn.

Nhưng có thể công nhận:

“Bố/mẹ hiểu rằng con muốn tự quyết việc này.”

Sau đó:

cùng xác định giới hạn.

22. RANH GIỚI VẪN CẦN ĐƯỢC GIỮ

Trao quyền không có nghĩa:

xóa bỏ mọi nguyên tắc.

Gia đình vẫn cần có:

giới hạn an toàn;

nguyên tắc đạo đức;

trách nhiệm;

quy tắc chung.

Ví dụ:

Con có thể tự chọn:

hoạt động nào;

cách học nào;

sở thích nào.

Nhưng không có nghĩa:

được gây hại cho người khác;

vi phạm an toàn;

vi phạm pháp luật;

xâm phạm quyền của người khác.

Do đó:

TỰ CHỦ LUÔN NẰM TRONG KHUNG CỦA AN TOÀN, ĐẠO ĐỨC VÀ TRÁCH NHIỆM.

23. TỰ QUYẾT VÀ TỰ HỌC

Khi cha mẹ không còn quyết định thay, con cần một năng lực khác:

BIẾT TÌM HIỂU TRƯỚC KHI LỰA CHỌN.

Chuỗi:

KHÔNG BIẾT → HỎI → TÌM → HỌC → HIỂU → SO SÁNH → LỰA CHỌN → THỬ → PHẢN HỒI → ĐIỀU CHỈNH.

Đây là lý do:

TỰ HỌC

là một nền tảng của:

TỰ QUYẾT.

24. TỰ QUYẾT VÀ ÁP LỰC BẠN BÈ

Một trong những bài kiểm tra đầu tiên của tự chủ:

CON CÓ THỂ NÓI “KHÔNG” VỚI NHÓM KHÔNG?

Một đứa trẻ có thể:

yêu quý bạn;

muốn thuộc về nhóm;

nhưng vẫn nói:

“Mình không làm việc này.”

Đây là sự kết hợp:

KẾT NỐI + RANH GIỚI + ĐẠO ĐỨC + TỰ CHỦ.

25. TỰ QUYẾT VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI

Khi trẻ lớn hơn, câu hỏi về:

học gì;

làm nghề gì;

sống ở đâu;

muốn trở thành ai

dần xuất hiện.

Cha mẹ có thể định hướng nhưng không nên vội biến:

ƯỚC MUỐN CỦA CHA MẸ

thành:

CUỘC ĐỜI CỦA CON.

Có thể sử dụng khung:

NHÂN CÁCH → XU HƯỚNG/NĂNG KHIẾU → KIẾN THỨC → KỸ NĂNG → NGHỀ NGHIỆP → TẠO GIÁ TRỊ.

Đây là khung giáo dục định hướng, không phải công thức dự đoán nghề nghiệp.

Điều quan trọng là:

quan sát;

cho trải nghiệm;

tìm hiểu;

phản hồi;

điều chỉnh.

26. NHỮNG SAI LẦM CHA MẸ THƯỜNG GẶP

1. Coi mọi ý kiến riêng của con là chống đối

Con mất cơ hội học cách tự lập.

2. Cho con quyền nhưng không cho trách nhiệm

Trẻ dễ hiểu tự do là tùy ý.

3. Cho trách nhiệm nhưng không cho quyền

Trẻ cảm thấy bị áp đặt.

4. Quyết định thay vì hướng dẫn

Con phụ thuộc vào ý kiến cha mẹ.

5. Sợ con chọn sai

Cha mẹ can thiệp quá sớm.

6. Sau một lần con sai, thu hồi toàn bộ quyền

Quá trình trao quyền bị gián đoạn.

7. Dùng câu “bố mẹ đã bảo rồi”

Biến hậu quả thành cuộc đấu quyền lực.

8. Ép con phải nghe vì “bố mẹ biết nhiều hơn”

Kinh nghiệm của cha mẹ cần trở thành dữ liệu, không phải lý do để con ngừng suy nghĩ.

9. Cho rằng tự quyết là muốn gì làm nấy

Bỏ qua giới hạn an toàn và trách nhiệm.

10. Chọn tương lai thay con

Cha mẹ có thể định hướng nhưng không thể sống thay cuộc đời của con.

27. BÀI TẬP — BẢN ĐỒ QUYỀN TỰ QUYẾT

Cha mẹ cùng con liệt kê:

CON ĐÃ TỰ QUYẾT ĐƯỢC

những việc cá nhân;

sở thích;

một phần lịch trình;

một số hoạt động.

CẦN CÙNG NHAU QUYẾT ĐỊNH

những việc quan trọng;

có nhiều hệ quả;

cần thêm kinh nghiệm.

CHA MẸ VẪN PHẢI QUYẾT ĐỊNH

những việc liên quan đến an toàn nghiêm trọng;

sức khỏe;

pháp luật;

nguy cơ gây hại.

Mục tiêu:

LÀM RÕ RANH GIỚI THAY VÌ TRANH GIÀNH QUYỀN LỰC.

28. BÀI TẬP — MỘT QUYẾT ĐỊNH CON TỰ LÀM

Chọn một việc:

an toàn;

phù hợp với tuổi;

có thể sửa sai.

Cha mẹ không đưa đáp án ngay.

Hãy để con:

thu thập thông tin;

đưa ra phương án;

lựa chọn;

thực hiện;

đánh giá.

Sau đó hỏi:

“Con học được gì từ quyết định này?”

29. BÀI TẬP — ĐỔI CÂU HỎI

Thay vì:

“Con có nghe lời bố mẹ không?”

hãy thử:

“Con nghĩ thế nào?”

“Con đang cân nhắc điều gì?”

“Con có những lựa chọn nào?”

“Hệ quả có thể là gì?”

“Con muốn chịu trách nhiệm cho lựa chọn nào?”

Mục tiêu:

CHUYỂN TỪ GIÁO DỤC VÂNG LỜI SANG GIÁO DỤC KHẢ NĂNG TỰ QUYẾT.

30. BÀI TẬP — NHẬT KÝ QUYẾT ĐỊNH

Với những quyết định phù hợp, có thể cùng con ghi:

Tôi cần quyết định gì?

Tôi biết gì?

Tôi chưa biết gì?

Tôi có những lựa chọn nào?

Tôi chọn gì?

Vì sao?

Kết quả thế nào?

Lần sau tôi sẽ làm gì khác?

Đây là cách biến:

QUYẾT ĐỊNH → PHẢN TƯ → TRÍ TUỆ.

31. CÂU HỎI PHẢN TƯ

  1. Tôi có đang xem mọi bất đồng của con là chống đối không?
  2. Con hiện đang có những quyết định nào phù hợp để tự thực hiện?
  3. Tôi có đang can thiệp vì vấn đề an toàn hay chỉ vì con chọn khác tôi?
  4. Tôi có đang nhầm “kinh nghiệm của cha mẹ” với “quyền quyết định mọi thứ”?
  5. Khi con sai, tôi có cho con cơ hội học từ hậu quả không?
  6. Quyền tự quyết của con hiện có đi cùng trách nhiệm tương ứng không?
  7. Tôi có thường đưa đáp án quá sớm không?
  8. Con có biết cách tìm thông tin trước khi quyết định không?
  9. Con có thể nói “con không đồng ý” mà vẫn giữ được sự tôn trọng không?
  10. Tôi đang chuẩn bị cho con tự quyết hay đang cố giữ con phụ thuộc vào quyết định của mình?

32. KẾT LUẬN

Một ngày nào đó, đứa trẻ sẽ bắt đầu nói:

“Con tự quyết được.”

Đây không nhất thiết là một vấn đề cần dập tắt.

Đó có thể là một tín hiệu:

CON ĐANG BẮT ĐẦU MUỐN SỐNG CUỘC ĐỜI CỦA MÌNH.

Nhiệm vụ của cha mẹ không phải là:

giữ quyền quyết định càng lâu càng tốt.

Mà là:

GIÚP CON ĐỦ NĂNG LỰC ĐỂ TỪNG BƯỚC NHẬN LẤY QUYỀN ĐÓ.

Quá trình:

ĐƯỢC HƯỚNG DẪN → ĐƯỢC LỰA CHỌN → TỰ QUYẾT → TỰ HÀNH ĐỘNG → TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM → TỰ ĐIỀU CHỈNH.

Vì vậy:

TRAO QUYỀN KHÔNG PHẢI LÀ BUÔNG CON.

TRAO QUYỀN LÀ TRAO CƠ HỘI ĐỂ CON TRƯỞNG THÀNH.

Và:

TỰ QUYẾT KHÔNG PHẢI LÀ MUỐN GÌ LÀM NẤY.

Mà là:

BIẾT MÌNH ĐANG CHỌN GÌ, VÌ SAO MÌNH CHỌN, CÓ THỂ XẢY RA ĐIỀU GÌ VÀ SẴN SÀNG CHỊU TRÁCH NHIỆM.

33. LIÊN KẾT VỚI CHƯƠNG TIẾP THEO

Khi con bắt đầu muốn tự quyết, bất đồng giữa cha mẹ và con gần như khó tránh khỏi.

Cha mẹ có thể nghĩ:

“Bố mẹ đang muốn tốt cho con.”

Con có thể nghĩ:

“Bố mẹ không hiểu con.”

Hai bên đều có thể xuất phát từ:

MONG MUỐN TỐT

nhưng vẫn:

KHÔNG CÙNG CÁCH NHÌN.

Vấn đề tiếp theo không còn là:

AI ĐÚNG – AI SAI?

Mà là:

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHA MẸ VÀ CON CÓ THỂ BẤT ĐỒNG MÀ VẪN GIỮ ĐƯỢC MỐI QUAN HỆ, RANH GIỚI VÀ SỰ TÔN TRỌNG?

Đó là nội dung của:

CHƯƠNG 41 — BẤT ĐỒNG GIỮA CHA MẸ VÀ CON.



Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trang web này sử dụng cookie để mang đến cho bạn trải nghiệm duyệt web tốt hơn. Bằng cách duyệt trang web này, bạn đồng ý với việc chúng tôi sử dụng cookie.